Tỉnh Nam Định nằm trọn nam đồng bằng châu thổ sông Hồng với:
Dịên tích là 1.637km2.
Dân số : 1,935,000 ngươI,
Dân tộc chủ yếu là dân tộc Việt (Kinh) ngoài ra còn có người Mường, người Tày và  Hoa.
         
Nam Định được thành lập năm 1831 (Năm Minh Mạng thứ 12). Xét về lịch sử quá khứ đầu đời Trần là lộ Thiên Trường. Năm 1466 (Năm Quang Thuận thứ 7) đặt là thừa tuyên Thiên Trường. Năm 1468 (năm Quạng Thuận thứ 10 đổi là thừa tuyên Sơn Nam. Năm 1490 ( năm Hồng Đức thứ 21) gọi là xứ Sơn Nam. Năm 1746 (Năm Cảnh Hưng thứ 2) chia thành trấn Sơn Nam Thượng và trấn Sơn Nam Hạ.Năm 1822 (Minh Mạng thứ 3) Trấn Sơn Nam Hạ đổi thành đổi thành trấn Nam Định. Năm 1831, trấn Nam Định đổi thành tỉnh Nam Định.
Trước đây sông Hồng chảy ra biển theo con sông Sò thuộc đất Nam Định, dòng chảy ra cửa Ba Lạt chỉ là cái lạch nhỏ, cửa Ba Lạt chỉ cần cái cầu khỉ với ba luộc lạt là qua được. Nhưng năm 1787 (năm vua Lê Chiêu Thông bỏ chạy sàng Tàu cư trú chính trị), có một trận lũ lớn, dòng sông Hồng chảy thẳng ra cửa Ba Lạt, cắt huyện Giao Thuỷ sang đất Nam Định như ngày nay.
Năm 1965, Nam Định và Nam Hà sáp nhập thành tỉnh Nam Hà.
Tháng 12 năm 1975, Nam Hà và Ninh Bình sáp nhập thành tỉnh Hà Nam Ninh.
Năm 1992, tách Ninh Bình trở lại tỉnh NamHà.
Năm 1996, tỉnh Nam Định tái lập.
Nam Định có một thành phố Nam Định, 9 huyện (Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Trực Ninh, Nam Trực, Nghĩa Hưng).
Nam Định có bờ biển dài 72 km, cách thủ đô Hà Nội 90 km, được nối liền với thủ đô cả ba loại đường giao thông: sắt, thuỷ, bộ.
 
 Văn hoá:
   - Là cái nôi của các điệu chèo, hát văn. Nhạc cụ có sáo, nhị kèn.
   - Thắng cảnh: BãI biển Hải Thịnh, Quất Lâm, đảo Cồn Lu, Cồn Ngạn, làng vườn cảnh Nam Điền. Đặc biệt là vườn quốc gia Xuân Thuỷ, một sân chim của quốc tế, khu dự trữ sinh quyển thế giới.
   - Lễ hội:
1- Lệ Hội Phủ Dầy, thuộc xã Kim Thái  huyện Vụ Bản cách thành phố Nam Định 15 km. Hội Phủ Dầy mở hàng năm từ mồng 3 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch.
2-Hội chợ Viềng vào ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch tại thôn Trung Thành xã Kim Thái.
3- Lễ hội đền Trần vào cả tháng 8 âm lịch và giỗ chính Đức Thánh Trần vào ngày 20/8 âm lịch.
4-Lễ hội Chùa Keo thuộc xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường từ 13 đến 15 tháng 9 âm lịch.
5-Lễ hội chùa Cổ Lễ thuộc thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh, từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch hàng năm.
 
Tài nguyên nhân văn
 
 Danh nhân thời xưa:         
1-Trạng nguyên Nguyễn Hiền, tự Khôi Nguyên. Quê lang Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường, nay là xã Nam Thắng huyện Nam Trưc. Đỗ trang Nguyên năm 1247. Là trạng nguyên khai khoa và là trạng nguyên trẻ tuổi nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông làm lên đến Thượng thư Bộ Công. Mất năm 21 tuổi. Hiện còn đến thờ tại xã Nam Thắng huyện Nam trực.
         
2-Trạng nguyên Đào Sư Tích (1350-1396), quê làng Cổ Lễ, nay là thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh. ông nội là tiến sỹ Đào Toàn Bân. Ông đỗ Trạng Nguyên khoa Giáp Dần, niên hiệu Long Khánh 2(1374) dưới trều Trần Duệ Tông. Ông được bổ làm Lễ Bộ Thượng thư, sau được thăng Nhập nội hành khiển kiêm Hữu ty lang trung ( chỉ sau Tể tướng). ông đi sứ Trung Quốc được phong " Lưỡng quốc Trạng Nguyên. Ông có tác phẩm " Sách lược phục hưng Đại Việt" nói lên ý chí cách tân của ông. Ông chống đối Hồ Quý Ly nên bị truy sát, con cháu phải thay tên đổi họ. Hiện nay con cháu quê hương ông mang họ Dương, không còn họ Đào tại làng Cổ lễ.
         
3-Trạng nguyên Lương Thế Vinh (1441-1496). Quê Cao Hương, Thiên Bản, nay là Liên Bảo Vụ Bản. Ông đỗ Trạng nguyên năm Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4(1463) đời Lê thánh Tông. Ông làm lên tới Hàn lâm viện thị giảng trưởng, hộ Bộ tả thị lang, tước Hương Lĩnh Hầu. Ông là một nhà toán học, chính trị, ngoại giao, sân khấu. Ông có tác phẩm về toán học để lại cho hậu thế là " Đại thành toán pháp". Bản chính hiện ở tại nhà bảo tàng quốc gia Anh. Khi Ông mất, vua Lê Thánh Tông đó ca ngợi:
          "Danh lạ còn truyền để quốc gia,
          Khuất ngón tay than tài cõi thế,
          Lấy ai làm trạng nước non ta."
         
4-Trạng nguyên Vũ Tuấn Chiều (1425-?). Quê Cổ Da, Tây Chân ( nay là thôn Cổ Da, xã Nam Hồng huyện Nam Trực. Thuở nhỏ cha mất sớm ông phải về quê mẹ sinh sống tại phường Nhật Chiêu huyện Quảng Đức (nay là thành phố Hà Nội) ông đỗ Trạng nguyên khoa Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 6(1475) đời Lê Thánh Tông, lúc ấy đã 51 tuổi. Ông làm quan đến chức Lại Bộ Tả thị lang
         
5-Trạng nguyên Trần Văn Bảo (1524-1610). Quê làng Cổ Chử huyện Tây Chân, nay thuộc xã Hồng Quang Nam Trực. Ông đỗ Trạng nguyên khoa Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Trị thời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm tới chức Lại Bộ Thượng thư, tước Nghĩa Sơn Hầu. Văn chương Ông vang lừng sang Bắc quốc. Người đời đó ca ngợi : " Sự nghiệp văn chương đằng Bắc quốc".
         
Những người con ưu tú làm nên lịch sử:
         
1-Trần Quốc Tuấn (1228-1300). Ông là vị Tướng của thế giới và của Việt Nam. Quê làng Tức Mạc phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mạc  xã Lộc Hoà thành phố Nam Định). Ông con của An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu ruột vua Trần Thái Tông. Ông là Quôc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương; là người đứng đầu quân đội Nhà Trần trong hai cuộc kháng chiến chông quân xâm lược nhà Nguyên (lần thứ hai 1285, lần thứ ba 1287-1288) . Ông có câu nói bất hủ:
"Nếu bệ hạ muốn hàng thì trước hết hãy chém đầu tôi đi đã". Chính vì vậy mà ông đã chỉ huy hai cuộc kháng chiến thành công.
            
2-Trần Quang Khải (1241-1294). Ông là vị quan đầu triều nắm toàn quyền nội chính và là vị tướng quan trọng thứ hai sau Trần Quốc Tuấn. Quê làng Tức Mạc phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mạc xã Lộc Hoà thành phố Nam Định).

3-Trần Nhật Duật (1255-1331). Ông là một vị thân Vương kiệt xuất nhất, con thứ 6 của vua Trần Thái Tông và là em ruột của vua Trần Thánh Tông và Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải. Quê làng Tức Mạc phủ Thiên Trường ( nay là thôn Tức Mạc xã Lộc Hoà thành phố Nam Định). Ông giỏi cả văn lẫn võ , biết nhiều thứ tiếng như: Trung Quôc, Chiêm Thành và Mã Lai.

4-Trần Khâm (1258-1308) tức vua Trần Nhân Tông. Ông là vị vua chỉ huy hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên; là vị vua đã biết khai thác thế mạnh của toàn dân khi ông mở Hội nghị Diên Hồng. Sau hai cuộc kháng chiến thành công khi 39 tuổi ông đã đi tu. Ông là ngưới sáng lập ra phái Trúc Lâm còn đến ngày nay. Ông đã được Nhà nước ta đề nghị UNECO công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới.

Danh nhân thời nay:

1-Trường Chinh (1907-1988) là Nhà lãnh đạo lỗi lạc của cách mạng Việt Nam. Hai lần đứng ở cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam; tên chính là Đặng Xuân Khu. Sinh ngày 9-2-1907; quê Xuân Hồng - Xuân Trường - Nam Định. Ông đã viết cuốn: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi" và chủ trương đưa ra đường lối "Đổi mới" , đât nước ta được như ngày nay là nhờ có công của Ông.
         
2-Lê Đức Thọ (1911-1990). Quê thôn Dịch Lễ xã Nam Vân thành phố Nam Định. Là một nhà ngoại giao; đã có công hội đàm với chính phủ Hoa Kỳ tại Pari, yêu cầu chỉnh phủ Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam. Ông đã được giải thưởng Nobel về hoà bình cùng với Kitsingre.
         
3-Nguyễn Đức Thuận (1916-1985). Quê làng Bản Ngũ huyện Vụ Bản. Nguyên phó Bí thư xứ uỷ Nam Bộ, cựu Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Ông là tác giả cuốn Bất khuất nổi tiếng.
         
4-Nguyễn Cơ Thạch (1921-1998). Quê xã Liên Minh huyện Vụ Bản Nam Định. Ông Nguyên Phó Chủ tịch Hội đổng bộ trưởng Việt Nam, Bộ trưởng Bộ ngoại giao VN.
         
5-Đặng Hồi Xuân (1929-1988). Quê làng Hành Thiện xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường Nam Định. Nguyên Bộ trưởng Bộ Y Tế (mất do tai nạn máy bay tại Thái Lan).
         
6- Đặng Vũ Chư: Sinh ngày 7-9-1940. Quê làng Hạnh Thiện xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường Nam Định. Nguyên Bộ trưởng Công nghiêp nhẹ 1990-1995.
         
7-Đặng Việt Châu( Đặng Hữu Rạng) sinh năm 1914. Quê làng Bách Tính huyện Nam Trực - Nam Định. Nguyên Phó Thủ tướng Việt Nam.
         
8-Trung Tướng Đinh Đức Thiện (1913-1987). Quê xã Nam Vân huyện Nam Trực (em ruột của Lê Đức Thọ). Nguyên Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải 1980-1982.
         
9-Mai Chí Thọ, sinh 15-7-1922. Quê xã Nam Vân huyện Nam Trực Nam Định (em ruột của Đinh Đức Thiện và Lê Đức THọ).
         
10-Vũ Văn Ninh. Quê Nam Trực Nam Định, Phó thủ tướng Việt Nam.
         
11-Ngô Xuân Lộc quê làng Bách Tính xã Nam Hồng huyện Nam Trực Nam Định, nguyên Phó thủ tướng Việt Nam.
         
12-Phạm Bình Minh sinh năm 1959. Quê xã Liên Minh, huyện Vụ Bản - Nam Định (Ông là con cố Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch). Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam.
         
13-Đinh La Thăng sinh ngày10-4-1960. Quê xã Yên Bình huyện Ý Yên Nam Định. Được bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải từ ngày 3-8-2011.
         
14- Cao Đức Phát, sinh 15-5-1956. Quê xã Yên Khang huyện Ý Yên Nam Định. Được bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ngày 3-12-2004.
         
15-Hoàng Văn Nghiên, sinh năm 1941, quê xã Nam Toàn huyện Nam Trực, nguyên Chủ tịch nhân dân thủ đô Hà Nội năm 1994.
         
16-Đinh Thế Huynh, sinh 15-5-1953 tại xã Xuân Kiên - huyện Xuân Trường - Nam Định. Ông được bầu vào uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam và giữ chức Trưởng Ban Tuyên Giáo của Đảng (2011).
         
17- Nguyễn Văn An, sinh ngày 1-10-1937, quê xã Mỹ Tân ngoại thành Nam Định. Ông là Chủ tịch Quôc hội Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 27-6-2001 đến 26-6-2006.
         
18- Thượng tướng Song Hào (1917 - 2004), tên thật là Nguyễn Văn Khương. Quê xã Liên Minh huyện Vụ Bản Nam Định. Nguyên Bộ trưởng Bộ thương binh và xã hội, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
        
  Người nổi tiếng:
         
1-Đặng Thế Phong (1918-1942). Quê phố Hàng Đồng thành phố Nam Định. Ông là nhạc sỹ nổi tiếng với ba tác phẩm: Đêm thu, Con thuyền không bến, Giọt mưa thu.
         
2-Nguyễn Bính (1918-1966). Quê làng Thiện Vinh xã Cộng Hoà huyện Vụ Bản Nam Định. Ông là nhà thơ của đồng quê, thơ tình nổi tiếng.
         
3-Trần Huy Liệu (1901-1969). Quê thôn Vân Cát huyện Vụ Bản. Ông là chủ tịch đầu tiên Hội lịch sử Việt Nam. Ông là trưởng phái đoàn của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà vào thu ấn tín của vua Bảo Đại. Chấp nhận câu nói của Bảo Đại " Thà là làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.".
         
4-Tam nguyên Trần Bích San (1840-1877). Quê xã Vị Xuyên huyện Mỹ Lộc Nam Định. Ông đỗ đầu ba kỳ thi (hương, hội, đình) nên được gọi là Tam nguyên. Thực tế lịch sử khoa bảng có năm vị đỗ " Tam nguyên":
          1-Trần Bích San(1840-1877)
          2-Đào Sư Tich ( 1350-1396)
          3-Lê Quý Đôn (1726-1784). Quê xã Độc Lập - huyện Hưng Hà - Thái Bình
          4-Nguyễn Khuyến (1835-1910) .Quê Yên Đổ, huyện Bình Lục Hà Nam.
          5-Vũ Phạm Hàm (1864-1910). Quê Thanh Oai Hà Đông
         
5- Đặng Xuân Bảng (1828-1910). Quê làng Hành Thiện huyện Xuân Trường. Trình độ học Tiến sỹ (ông là ông nội của Tổng bí thư Trường Chinh.
         
6- Phạm Văn Nghị (1805-1884). Quê xã Tam Đăng tổng An Trung Phủ Nghĩa Hưng. Trình độ học vị Cử nhân. Khi giặc Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, ông đã huy động được 365 quân binh quê Nam Định hành quân vào Huế xin triều đình cho đánh giặc.
         
7- Á Nam Trần Tuấn Khải (1895-1983). Bút danh của ông là Á Nam có nghĩa là người nước Nam, châu Á. Quê làng Xán, huyện Mỹ Lộc Nam Định. Ông là nhà nho, nhà văn nổi tiếng và yêu nước. Ông để lại nhiều tác phẩm văn xuôi, thơ; đặc biệt là dịch giả ba tác phẩm nổi tiếng của Trung Quốc : Hồng lâu mông của Tào Tuyết Cần, Thuỷ hử của Thi Lại An và Đông chu liệt quốc.
         
8-Nhạc sỹ Văn Cao (1923-1995) .Quê xã Liên Minh huyện Vụ Bản - Nam Định. Ông là nhạc sỹ nổi tiếng. Ông đã được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Tác phẩm cua Ông để lại cho hậu thế như: Suối mơ, Bến Xuân, Trương chí, Trường ca Sông Lô, Thiên Thai, Tiến về Hà Nội. Đặc biệt là bài Tiến quân ca là Quôc ca của Việt Nam.
         
Nam Định cũng như Thái Bình, HảI Phòng, Ninh Bình, Hà Nam, là những tỉnh ở vùng đất bồi đắp mới, không có một làng khoa bảng nào. Song Nam Định  từ xưa đến nay giữ nhiều trọng trách Nhà nước của Việt Nam. Nam Định là một tỉnh có nhiều con em đi công công tác khắp mọi miền đất nước, giữ nhiều chức vụ quan trọng; đang từng ngày, từng giờ góp phần làm  giầu đẹp cho đất nước.




Nguồn: Sưu Tầm

Giới thiệu chung